QUOTE(Chú Thích)(dnpa @ Feb 9 2010, 10:38 AM)

Tôi đang lẫn lộn giữa Trợ cấp mất việc (TCMV) và Trợ cấp thôi việc (TCTV). Mọi người vui lòng so sánh giúp tôi TCMV & TCTV. Hai loại trợ cấp này được áp dụng khi nào? Có gì khác nhau khi áp dụng cho doanh nghiệp trong nước và nước ngoài không? Đơn vị nào sẽ chi trả TCMV & TCTV?
Cám ơn.
Các đối tượng hưởng chế độ trợ cấp được chia làm hai trường hợp. Một là trường hợp cắt giảm để tinh giản các nhân viên yếu kém không đáp ứng được công việc, những đối tượng này sẽ được hưởng Trợ cấp thôi việc. Hai là trường hợp cắt giảm do giải thể, sáp nhập bộ phận/đơn vị dẫn đến dôi dư lao động, những đối tượng này sẽ hưởng Trợ cấp mất việc làm.
Theo quy định của pháp luật lao động về tiền lương, thì tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương theo hợp đồng lao động (HĐLĐ), được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi thôi việc, gồm tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có). Tiền lương cấp bậc theo HĐLĐ là lương gộp, bao gồm tiền lương thực lĩnh và các khoản người lao động phải chi từ tiền lương của mình để trích nộp về bảo hiểm xã hội (BHXH) (theo quy định hiện hành là 5% tiền lương), bảo hiểm y tế (theo quy định hiện hành là 1%) và thuế thu nhập cá nhân.
Về trợ cấp mất việc làm, Thông tư số 19/2004/TT-BLĐTBXH ngày 22-11-2004 của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội hướng dẫn như sau: Trợ cấp mất việc làm được tính theo thời gian thực tế làm việc trong khu vực Nhà nước, cứ mỗi năm (12 tháng) được trợ cấp 1 tháng lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp lương (nếu có) đang hưởng nhưng thấp nhất cũng bằng 2 tháng tiền lương, phụ cấp lương đang hưởng.