Chào bạn builua
Vấn đề bạn hỏi tôi xin trả lời như sau:
THỨ NHẤT:
Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:
a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng;

Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại Điều 85 của Bộ luật lao động.
c) Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm đau đã điều trị 12 tháng liền, người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn ốm đau đã điều trị sáu tháng liền và người lao động làm theo hợp đồng lao động dưới một năm ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động, mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khoẻ của người lao động bình phục, thì được xem xét để giao kết tiếp hợp đồng lao động;
d) Do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;
đ) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động.
Nếu bạn không rơi vào một trong những trường hợp nêu trên thì Người sử dụng lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, đồng thời vi phạm nghĩa vụ thông báo đối với loại HDLD không xác định thời hạn, cụ thể:
Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này (nêu ở trên), người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:
a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ một năm đến ba năm;
c) Ít nhất ba ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ, theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm.
THỨ HAI:
Việc công ty bạn không trả trợ cấp thôi việc cho bạn là trai pháp luật vì bạn không rơi vào trường hợp của Khoản 1 Điều 17, Điều 31 BLLĐ sửa đổi bổ sung và Điều 85 Bộ luật lao động. Do vậy việc không chi trả trợ cấp thôi việc làm cho bạn là trái phap luật bởi các lẽ sau:
1- Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm việc và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày người lao động không được làm việc. Trong trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường tương ứng với tiền lương trong những ngày không được làm việc, người lao động còn được trợ cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật này.
2- Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì không được trợ cấp thôi việc.
3- Trong trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải bồi thường phí đào tạo nếu có, theo quy định của Chính phủ.
4- Trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước, bên vi phạm phải bồi thường cho bên kia một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.
Điều 42 BLLĐ.
1- Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ một năm trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có.
Nếu tôi thực sự nắm được đầy đủ các tình tiết của vụ việc này thĩ sẽ tư vấn cho bạn tối ưu, toàn diện và hiệu quả hơn. Vì có nhiều khả năng ngay cả khi bạn nghỉ làm việc theo quyết định cho thôi việc của Công ty thì Luật vẫn được hưởng đầy đủ các chế độ như bình thường, chỉ lưu ý thời hiệu khởi kiện một vụ án lao động để khỏi bị mất quyền lợi của bạn. Và cũng nên hết sức thận trọng để khỏi "mắc bẫy" người sử dụng lao động trước khi vụ việc bị nâng lên thành "tranh chấp lao động"
Chúc bạn may mắn.